Dược Liệu

Thị đe: Vị thuốc y học cổ truyền Trung Quốc

15
Quả thị đe

Mô tả ngắn: Thị đe là một trong những cây trồng lâu đời nhất, đã được sử dụng ở Trung Quốc trong hơn 2000 năm. Nó được sử dụng như một vị thuốc trong y học cổ truyền Trung Quốc từ nhiều năm cho các bệnh khác nhau bao gồm cả mỹ phẩm và ứng dụng da liễu.

Tên thường gọi: Thị đe
Tên gọi khác:
Hồng,
Thị Đinh,
Hồng Thị,
Mác Pháp,
Mạy Chí

Mô Tả Dược Liệu

Tên gọi, danh pháp

Tên khoa học: Diospyros kaki Thunb.

Tên gọi khác:Thị đế; Hồng; Thị đinh; Hồng thị; Mác pháp; Mạy chí.

Họ: Ebenaceae (Thị).

Đặc điểm tự nhiên

Cây

Thị đe hình dáng tương tự như cây táo, có kích thước lên tới 10 mét (33 ft). Những chiếc lá của nó có màu xanh lục từ trung bình đến đậm, hình mác rộng, cứng và dài bằng nhau.

Bông hoa

Những bông hoa rộng từ 2,0 đến 2,5 cm (0,8 đến 1,0 inch) và xuất hiện vào cuối mùa xuân hoặc đầu mùa hè, tùy thuộc vào giống và khu vực trồng trọt.

Hoa hình ống có màu trắng kem. Những bông hoa có bốn lá đài hình vương miện và bốn cánh hoa tạo thành một đài hoa lớn. Hoa cái mọc đơn lẻ, trong khi hoa đực đôi khi có thể có màu hồng và có xu hướng xuất hiện trong các cụm ba.

Quả

Quả Thị đe là một loại trái cây có vị ngọt, hơi thơm với kết cấu mềm và thỉnh thoảng có xơ. Loài cây này có nguồn gốc từ Trung Quốc, là loài rụng lá, với các lá rộng và cứng.

Khi chín, quả bao gồm lớp thạch dày mịn được bao bọc trong một lớp vỏ mỏng như sáp. Quả hình cầu đến hình bầu dục, có cuống lõm và 4 lá đài, có thể nặng tới 500 gam (18 oz). Vỏ mỏng mịn, sáng bóng, có màu từ vàng đến đỏ cam.

Quả thị đe có thể chứa tới 8 hạt và có thể có vị chát. Khi độ chín ngày càng tăng, trái cây sẽ mềm đi. Quả thị đe chín khi lá đã rụng gần hết trên cây, thường vào tháng 10 và tháng 11.

Chi tiết trồng trọt

Đây là loài thực vật của vùng ôn đới ấm áp và cận nhiệt đới, nó cũng trồng được ở độ cao cao hơn lên đến 2.500 mét ở vùng nhiệt đới

Nó phát triển tốt nhất ở những khu vực có lượng mưa phân bố tốt, mặc dù nó có khả năng chịu đựng đáng kinh ngạc ở những khu vực bán khô hạn với lượng mưa ít nhất là 300mm, cũng như ở những khu vực ẩm ướt với lượng mưa lên đến 3.000mm

Phân bố, thu hái, chế biến

Phân bố

Nó được trồng lần đầu tiên ở Trung Quốc hơn 2000 năm trước, và du nhập vào Nhật Bản vào thế kỷ thứ 7 và đến Hàn Quốc vào thế kỷ thứ 14. Sau đó, nó được giới thiệu đến California và miền nam châu Âu vào thế kỷ 19, đến Brazil vào những năm 1890.

Hiện nay, Thị đe được trồng trên toàn thế giới, với 90% tổng số ở Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc.

Thu hoạch, chế biến

Ở Đông Á, thời gian thu hoạch Thị đe là vào các tháng 10 và 11. Cây rụng lá theo thời gian thu hoạch,

Ở Anh, trái cây cần được thu hoạch khi nó vẫn còn rất cứng. Điều này được thực hiện rất muộn vào mùa vụ (vào tháng 12 hoặc thậm chí tháng 1 nếu có thể), sau đó nó được bảo quản ở nơi mát mẻ cho đến khi mềm và chín hoàn toàn.

Bộ phận sử dụng

Quả Thị đe xanh hoặc chín. Tai Thị đe là thị đế, phơi hay sấy khô. Còn dùng vỏ thân, vỏ rễ.

Quả thị đe

Quả thị đe

Thành Phần Hóa Học Của Thị đe

Carotenoids

Hàm lượng cao của carotenoids beta-cryptoxanthin, beta-carotene và zeaxanthin, cùng với một số lutein và alpha-carotene làm cho quả Thị đe có giá trị về mặt dinh dưỡng.

Carotenoids là những hợp chất tạo sắc tố có nhiều trong trái cây và rau quả có màu vàng, cam và đỏ. Chúng thường tồn tại dưới dạng α, β và γ với các hoạt động sinh học cụ thể. Quả Thị đe rất giàu carotenoid, đặc biệt là β-carotenes có thể chuyển đổi thành β-cryptoxanthin. Cả hai thành phần này đều có các hoạt tính sinh học đáng kể.

Nhiều nhà khoa học khác nhau đã báo cáo rằng β-carotenes chiếm ưu thế trong quả Thị đe, sau đó là β-cryptoxanthin và α-carotenes.

Tanin

Hàm lượng tannin cao trong Thị đe vẫn chưa trưởng thành cung cấp một thành phần đắng gợi nhớ đến hạt dẻ thô chưa bóc vỏ, sẽ yếu đi khi quá trình trưởng thành dần dần. Vị đắng, do tannin gây ra, bị giảm và cuối cùng biến mất hoàn toàn trong quá trình chín.

Tanin là một trong những loại phân tử hoạt tính sinh học quan trọng có trong thịt quả Thị đe với trọng lượng phân tử lên đến 1,12 × 104da.Chúng chứa dư lượng axit gallic liên kết với glucose thông qua liên kết glycosidic.

Xem xét các tính chất hóa học, tannin có thể được chia thành hai nhóm rộng hơn, tức là có thể thủy phân và không thủy phân. Tuy nhiên, trên cơ sở cấu trúc , có ba loại chính, tức là tannin phức tạp, cô đặc và thủy phân.

Khi ăn Thị đe, các tế bào tanin có trong quả bị nghiền nát và chất tannin hòa tan được giải phóng, do đó tạo ra cảm giác se da.

Ngoài ra, flavano-ellagitannin (phân tử flavan-3-ol kết hợp với gốc tannin có thể thủy phân thông qua liên kết carbon-carbon) và procyanidino-ellagitannin (proanthocyanidins và ellagitannin) cũng là các thành phần hóa thực vật đáng kể có trong quả Thị đe.

Thị đe chứa thành phần hóa học Tanin

Thị đe chứa thành phần hóa học Tanin

Các thành phần khác

Trước đó, Gorinstein đã kiểm tra hàm lượng phenol chính của quả Thị đe, tức là epicatechin, axit ferulic, axit gallic, axit protocatechuic, axit vanillic và axit p-coumaric.

Tác Dụng Dược Lý Của Thị đe

Theo y học cổ truyền

Tính vị, quy kinh

Quả Thị đe vị ngọt chát, tính bình.

Tai thị đê (còn gọi là thị đế) vị đắng chát, tính ấm, không mùi, chất cứng giòn.

Công năng, chủ trị

Quả thị đe được cho là có các đặc tính khác nhau tùy thuộc vào giai đoạn chín của nó, mặc dù nói chung nó có tác dụng chống ho, làm se, nhuận tràng, bổ dưỡng và chữa dạ dày.

Quả chín hoàn toàn tươi được dùng sống trong điều trị táo bón và bệnh trĩ và khi nấu chín được dùng để chữa tiêu chảy.

Quả chín phơi khô được dùng trong điều trị các chứng phế quản, trong khi khi nghiền thành bột, nó được dùng để chữa ho khan .

Nước ép từ quả chưa chín được sử dụng trong điều trị tăng huyết áp.

Trái cây, được hái còn xanh và chín trong các thùng chứa cùng với lá, trở nên rất ngọt và được coi là chất chống nhiễm trùng, kháng vi rút và tiêu độc

Quả cũng được gọt vỏ rồi phơi nắng ban ngày và phơi sương ban đêm. Chúng được phủ một lớp bột màu trắng và sau đó được coi là chất tẩy giun sán, chống xuất huyết, kháng vi rút, long đờm, khử sốt.

Nước sắc từ đài hoa và thân quả đôi khi được dùng để giảm nấc, ho và hô hấp khó khăn.

Theo y học hiện đại

Ứng dụng trong dược mỹ phẩm

Theo truyền thống, loại cây này được sử dụng để điều trị các tình trạng da khác nhau bao gồm mụn nhọt, mẩn ngứa trên da và bệnh chàm. Sự quan tâm hiện nay đã được tập trung vào việc sử dụng các hợp chất hoạt tính sinh học tự nhiên trong các ứng dụng chữa bệnh và làm đẹp khác nhau trong các ngành da liễu và thẩm mỹ.

Hoạt động chống oxy hóa đầy hứa hẹn và khả năng làm trắng da, tăng cường bằng cách giảm lượng bã nhờn, giảm kích thước và số lượng lỗ chân lông trên da khiến nó trở thành một lựa chọn phù hợp làm thành phần mỹ phẩm.

Tác dụng chống oxy hóa

Garcia-Alonsa và cộng sự (2004) phát hiện, bằng thử nghiệm cho thấy Thị đe có hoạt tính chống oxy hóa cao nhất so với 27 loại trái cây khác, bao gồm cả việt quất hoặc dâu tây, thường xuyên được trích dẫn là có hoạt tính chống oxy hóa cao nhất.

Chen và cộng sự. (2008) cho thấy Thị đe chứa chất chống oxy hóa và phenolic cao hơn đáng kể so với nho, táo và cà chua.

Bệnh tim mạch

Proanthocyanidins được tìm thấy trong Thị đe có thể làm giảm nguy cơ mắc các bệnh tim mạch thông qua việc giảm huyết áp và kết tập tiểu cầu.

Quả và các chất chiết xuất từ ​​lá Thị đe đã được chứng minh là có thể ức chế enzym chuyển đổi angiotensin hoặc tăng cường sản xuất oxit nitric dẫn đến sự co mạch.

Thị đe giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch

Thị đe giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch

Điều trị rối loạn lipid máu

Tác dụng có lợi của quả Thị đe đối với việc giảm cholesterol toàn phần, LDL và chất béo trung tính chủ yếu liên quan đến tác dụng chống oxy hóa của phenol trong quả thị đe.

Trong một nghiên cứu về những con chuột được cho ăn khẩu phần có 1% cholesterol, Gorinstein cho thấy rằng quả Thị đe chín một phần đã chống lại tác động tiêu cực của chế độ ăn nhiều cholesterol, đáng kể giảm tổng lượng cholesterol trong huyết tương khoảng 20%, LDL khoảng 31% và chất béo trung tính là 19%.

Tác dụng chống đái tháo đường

Tăng đường huyết (lượng đường trong máu cao) là biểu hiện lâm sàng chính của bệnh đái tháo đường. Bổ sung vào khẩu phần ăn của thỏ bị tiểu đường với bột quả Thị đe khô với tỷ lệ 5 và 10% trong khẩu phần làm giảm lượng đường huyết tương khoảng 16% và triglycerid khoảng 40% và ức chế các enzym tiêu hóa.

Lee và cộng sự. (2007) cho thấy rằng các oligome và polyme từ proanthocyanidins của vỏ quả Thị đe có khả năng ức chế hoạt động của a-glucosidae hoặc a-amylase, các enzym làm tăng hấp thu glucose trong ruột. Chúng tôi gợi ý rằng ăn quả Thị đe có thể ngăn ngừa sự gia tăng nhanh chóng của lượng đường trong máu sau khi tiêu thụ các bữa ăn nhiều carbohydrate.

Đặc tính chống ung thư

Carotenoid, chẳng hạn như lycopene, và catechin như EGCG, được tìm thấy trong quả Thị đe, đã được tìm thấy trong cả thử nghiệm in vitro và in vivo để bảo vệ hóa học chống lại một loạt bệnh ung thư, cụ thể là ung thư tuyến tiền liệt và ung thư vú, tế bào ung thư biểu mô miệng, tế bào bạch cầu lympho ở ngườ) và polyp đại tràng tiền ung thư ở phụ nữ.

Chúng cũng đã được chứng minh là có tác dụng ức chế sự phát triển đối với tế bào ung thư tuyến tụy của con người trong ống nghiệm và hoạt động ức chế điều biến đa kháng thuốc (MDR) đáng kể.

Phương thức hoạt động trong việc giảm sự phát triển của tế bào ung thư có thể là thông qua việc ức chế DNA polymerase, một loại enzyme liên quan đến quá trình sao chép DNA, bằng cách làm hỏng màng ty thể, các nguồn năng lượng của tế bào, hoặc thông qua quá trình chết hoặc chết theo chương trình của tế bào.

Các lợi ích sức khỏe khác

Lá Thị đe được sấy khô và làm thành trà xanh, nhiều loại thảo dược và mỹ phẩm để giảm lão hóa da. Nhiều bằng sáng chế về thảo dược khác nhau đã được áp dụng cho việc sử dụng Thị đe trong hỗn hợp với các loại thảo mộc khác (ví dụ như bạch quả) để giảm tăng huyết áp và rối loạn dạ dày.

Chiết xuất lá có chứa các chất chống dị ứng, chẳng hạn như astragalin, ức chế giải phóng histamine.

Các nghiên cứu trên động vật đã chỉ ra rằng chiết xuất lá Thị đe dùng bằng đường uống có thể làm giảm viêm da.

Liều Dùng, Cách Dùng Của Thị đe

Mỗi ngày có thể ăn từ 10 – 20 g Thị đe chín, nếu ăn mứt Thị đe thì ăn khoảng 2 – 3 quả.

Lưu Ý Khi Sử Dụng Thị đe

Quả Thị đe mặc dù rất bổ nhưng không phải ai sử dụng cũng tốt. Theo đông y, người tỳ vị hư hàn, có đàm thấp bên trong, tiêu chảy, đang bị cảm lạnh không được ăn Thị đe. Không ăn Thị đe sau khi ăn món tôm và cua.

Khi đói không nên ăn quá nhiều Thị đe, nhất là Thị đe chưa chín kĩ. Vì một số thành phần trong quả Thị đe có thể kết hợp với dịch vị tạo thành những chất kết tủa.

Bài Thuốc Có Thị đe

Bài thuốc làm thuốc bổ, chữa suy nhược, háo khát, ho có đờm

Quả Thị đe chín vừa hái trên cây, bỏ tai, gọt vỏ đem phơi nắng hay sấy khô, sau đó ép bẹp, ngâm vào rượu uống hàng ngày. Mỗi ngày uống 15-25 g.

Bài thuốc làm thuốc bồi bổ cơ thể

Dùng quả Thị đe khô (tức mứt Thị đe) cho vào mật ong và váng sữa rồi đun sôi nhỏ lửa khoảng 5-10 phút. Để nguội, ăn hàng ngày 3-5 quả vào lúc đói.

Bài thuốc chữa tiêu chảy

Quả Thị đe xanh giã nát, cho vào chút nước sôi để nguội, gạn lấy nước uống rất hiệu nghiệm.

Chữa huyết áp cao

Dùng quả Thị đe chưa chín, ép lấy nước rồi phơi hoặc sấy khô, dùng làm thuốc chữa cao huyết áp, có kết quả rất tốt. Nước ép của quả Thị đe chưa chín đem sấy khô có tên gọi là thị tất, còn dùng để chữa sung huyết ở trĩ…

Chữa nấc

Tai Thị đe sao vàng, tán bột, uống với rượu. Hoặc dùng tai Thị đe 100 g, đinh hương 8 g, gừng tươi 5 lát. Hợp lại sắc uống, chia làm nhiều lần trong ngày.

Nguồn Tham Khảo

https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC4817420/

https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0102695X17301011

https://www.jstor.org/stable/42883464

https://www.scielo.br/j/rbfar/a/ggYM85qpxFFdGpgPph4cY5j/?lang=en

0 ( 0 bình chọn )

Dược Phẩm Học Viện Quân Y

https://duocphamhocvienquany.vn
Trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng sản xuất thuốc là đơn vị được Học viện Quân y giao nhiệm vụ nghiên cứu, sản xuất ứng dụng các sản phẩm thuốc, thực phẩm chức năng, mỹ phẩm phục vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng.

Ý kiến bạn đọc (0)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Bài viết liên quan

Bài viết mới

Xem thêm